Một số giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng cho tỉnh Hà Giang



Post in July 21, 2015 2:11 am BY

Hà Giang là một địa phương ở biên cương Tổ quốc có rất nhiều tiềm năng lớn, điển hình là vùng có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, khí hậu, thổ nhưỡng đặc biệt.

1509902_891661027563442_7098228328051028808_n

Quan điểm phát triển:

(i) Quyết tâm chính trị và thống nhất cao từ TW đến địa phương cho sự phát triển của Hà Giang;

(ii) Phát triển Hà Giang lấy nguồn lực bên trong là quyết định, chiến lược, cơ bản, lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng và đột phá. Nhà nước ưu tiên đầu tư ban đầu về kết cấu hạ tầng động lực đồng thời ban hành cơ chế ưu đãi để thu hút mọi nguồn lực;

(iii) Hội nhập sâu rộng, phát triển kinh tế nhanh, bền vững đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội và giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; không phát triển bằng mọi giá.

Các quan điểm nêu trên cũng thể hiện nguyên tắc: (i1) Lấy phát triển con người; đảm bảo và cải thiện dân sinh làm mục đích; (i2) Lấy đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế xanh, nông lâm sản sạch, du lịch sinh thái, khám phá làm định hướng; (i3) Lấy phát triển hạ tầng, cải cách hành chính đồng bộ, nâng cao chất lượng an sinh xã hội, phát triển nền văn hóa các dân tộc anh em  làm nền tảng; (i4) Lấy ứng dụng chuyển giao và làm chủ khoa học – công nghệ, tăng năng suất các yếu tố tổng hợp, thị trường làm động lực; (i5) Phát triển văn minh thương mại, du lịch, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường làm trọng điểm; (i6) Lấy phát triển kinh tế ổn định, bền vững để góp phần giữ vững QPAN và ngược lại phải bảo đảm vững chắc QPAN để phục vụ phát triển kinh tế làm trọng yếu, thường xuyên.

 10441446_891277227601822_7904716356640896350_n

Quan điểm về phát triển kết cấu hạ tầng:

Kết cấu hạ tầng phát triển là điều kiện tiền đề quan trọng để thức đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Một hệ thống kết cấu hạ tầng nếu được phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ tạo nền tảng cho không gian phát triển kết nối giữa địa phương với các vùng, miền để biến các lợi thế so sánh của từng địa phương thành lợi thế cạnh tranh gia tăng.

Để phát triển hạ tầng tuyến biên giới đất liền cần có cách tiếp cận vừa tiệm tiến vừa đột phá trên lăng kính tổng hợp và đa chiều về phát triển hạ tầng đồng bộ, gắn kết vào chuỗi giá trị gia tăng của vùng, tạo hiệu ứng lan tỏa phát triển kinh tế cho vùng trung du miền núi phía Bắc và cả nước. Theo hướng này, Hà Giang cần tập trung đầu tư vào 9 lĩnh vực hạ tầng quan trọng được đề cập trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và trên cơ sở quy hoạch theo hướng phục vụ phát triển kinh tế bền vững:

  • Hạ tầng đô thị và khu công nghiệp:

Về hạ tầng đô thị: nâng cấp đô thị trung tâm tiểu vùng, đô thị trung tâm tiểu vùng huyện, hệ thống đô thị có chức năng tổng hợp; các đô thị, điểm cư dân dọc biên giới, các đô thị chuyên ngành.

Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy (giao thương với tỉnh Vân Nam – Trung Quốc) cũng là một lợi thế vô cùng lớn, kết hợp với các khu công nghiệp  Bình Vàng, KCN Nam Quang tạo điều kiện phát triển cụm công nghiệp, thương mại, dịch vụ gắn với phát triển kinh tế mậu biên. Để thu hút nguồn lực vào Khu kinh tế này, thì cần tạo điều kiện thu hút đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp mới. Cụ thể là các chính sách hỗ trợ đến chân hàng rào của tỉnh, hoàn thành việc giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và tiếp tục kêu gọi các nhà đầu tư, doanh nghiệp đến Hà Giang. Từ nay đến năm 2020, tiếp tục quy hoạch chi tiết, hình thành và phát triển các cụm công nghiệp: Yên Định, Yên Phú, Yên Cường, Minh Sơn (Bắc Mê), Tùng Bá, Thuận Hoà (Vị Xuyên), Thái An (Quản Bạ), Tân Bắc, Yên Thành (Quang Bình), Mậu Duệ (Yên Minh), Sơn Vĩ (Mèo Vạc) …  Xây dựng các khu kinh tế – quốc phòng cho các xã biên giới, huyện biên giới phải gắn với quy hoạch thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ.

Uu tiên kết cấu hạ tầng tạo các vùng động lực như Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy, các cặp cửa khẩu Xín Mần – Đô Long, Săm Pun – Điền Bồng; khu du lịch công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn; Khu du lịch danh lam thắng cảnh ruộng bậc thang Hoàng Su Phì.

  • Hạ tầng giao thông: Nguồn vốn thực hiện về xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông mới đạt được khoảng 30% so với quy hoạch đề ra, vì vậy hạ tầng giao thông của tỉnh tuy đã được cải thiện những vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Tập trung ưu tiên phát triển các công trình hạ tầng trọng điểm như:

Đối với các tuyến đường tăng cường liên kết vùng: Quốc lộ 4 đoạn Hà Giang – Lào Cai; Đường Bắc Mê (Hà Giang) – Na Hang (Tuyên Quang); nâng gcấp và hoàn thiện hạ tầng thiết yếu 8 chợ cửa khẩu chính nhằm thúc đẩy phát triển thương mại, giao lưu kinh tế – văn hóa giữa nhân dân 2 nước vùng biên giới: Bạch Đích – Yên Minh, Mốc 198 – Xín Mần, Săm Pun – Mèo Vạc, Nghịa Thuận – Quản Bạ, Lao Chải – Vị Xuyên, Phó Bảng – Đồng Văn, Thàng Tín – Hoàng Su Phì, Sơn Vĩ – Mèo Vạc.  Ngoài ra một số tuyến đường giao thông đối ngoại cũng đang năm trong quy hoạch nâng cấp của Trung ương như : QL 34 từ Tp Hà Giang đi Khâu Đồn ( Cao Bằng) dài 265 km sẽ được hoàn thiện nâng cấp tối thiểu đạt tiêu chuẩn đường cấp IV 2 làn xe. Nâng cấp QL 279 đoạn từ Việt Vinh – Nghĩa Đô ( Km 0 – Km 36) tỉnh Hà Giang. Quốc lộ 4 được đầu tư nâng cấp đoạn nối Hà Giang – Lào Cai giai đoạn 1 ( đoạn km 194 – km 211,  km 258 – km 271). Quốc lộ 2: Xử lý tăng cường nền mặt đường đoạn Km 111+800 – Km 175 ( Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 2 đoạn Đoan Hùng – Hà Giang.  Trong quy hoạch quốc gia giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 sẽ nâng cấp đường vành đai 1: QL 4, 4A, 4B, 4C, 4D, 4H từ Quảng Ninh đi Điện Biên dài 1002 km. Kết nối Hà Giang với đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai.

 Tuyến đường nội tỉnh: Quốc lộ 4C vì tuyến này phục vụ khai thác du lịch công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn. Nâng cấp đường ra các cửa khẩu tiểu ngạch.

Đường hành lang biên giới và đường tuần tra biên giới: Đầu tư nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới và hoàn chỉnh tuyến đường hành lang biên giới dựa trên QL4C và QL4, đường ra cửa khẩu, đường nối đường hành lang biên giới với đường tuần tra biên giới. Xây dựng cầu lớn: Xây dựng cầu Bình Vàng vượt sông Lô nối QL2 với ĐT Hà Giang- Kim Ngọc.

Đường thủy nội địa: xây dựng bến (cảng) tại huyện Bắc Mê phục vụ du lịch và vận chuyển hàng trên vùng hồ thủy điện Na Hang theo tuyến Bắc Mê- Na Hang; khi các vùng hồ thủy điện hình thành, nghiên cứu phát triển các bến thủy để khai thác và phục vụ du lịch lòng hồ.

Đường hàng không: Nghiên cứu xây dựng quy hoạch  sân bay lưỡng dụng Phong Quang – Huyện Vị Xuyên; xây dựng sân bay tại Tân Quang (Bắc Quang) sau năm 2020. Xây dựng bãi đáp trực thăng tại Lũng Cú, Phó Bảng và trung tâm các huyện như TT. Đồng Văn, TT Mèo Vạc, TT Yên Minh, TT Vinh Quang và TT Cốc Pài bằng việc kết hợp xây dựng và sử dụng chung với các sân vận động và các quảng trường.

Nghiên cứu quy hoạch phát triển cảng hàng không nội địa trước hết phục vụ vận tải taxi ở Tân Quang, đạt tiêu chuẩn 3C và khả năng xây dựng đoạn tuyến đường sắt quốc gia nối đến Hà Giang.

(3) Hạ tầng cung cấp điện: Xây dựng và mở rộng các trạm 220/110 KV với công suất 80MVA, và nâng công suất tăng thêm vào năm 2020. Hoàn thiện hệ thống điện lưới quốc gia đến các xã đạt tiêu chuẩn cấp điện sinh hoạt (đô thị đạt 450 W/người; nông thôn đạt 300 W/người), điện công trình công cộng (Khu vực đô thị bằng 30% điện sinh hoạt. Khu vực nông thôn lấy bằng 20% điện sinh hoạt), điện công nghiệp (chỉ tiêu sử dụng từ 150 – 300 KW/ha).

(4) Hệ thống cấp nước sinh hoạt và thủy lợi:  Hiện nay nguồn nước sinh hoạt của bà con đồng bào dân tộc Hà Giang gồm: Giếng khoan UNICEF, giếng đào, bể chứa hộ gia đình và hệ thống tự chảy. Nguồn nước dùng cho sinh hoạt của nhân dân địa phương chủ yếu được khai thác từ các nguồn nước mặt hoặc nước tự nhiên, về mùa khô thường bị cạn kiệt nhất là các huyện ở vùng cao. Ngay cả các điểm dân cư đã được đầu tư công trình cấp nước, nguồn nước cũng không đảm bảo. Trong tương lai tỉnh cần đầu tư cung cấp nguồn nước sạch cho nhân dân bằng cách xây dựng các nhà máy xử lý nước quy mô lớn ở vùng thấp, khoan giếng và xây dựng các bể nước treo ở vùng cao nhằm đảm bảo cung cấp nguồn nước sạch cho bà con nhân dân.

Xây dựng đồng bộ hệ thống cấp nước cho Tp Hà Giang; đầu tư xây dựng mới hoặc nâng công suất và hoàn chỉnh hệ thống phân phối nước ở các huyện lỵ để đến năm 2020, tất cả các thị trấn huyện, lỵ trong tỉnh đều có nhà máy nước công suất từ 1.000 m3/ngày đêm trở lên. Xây dựng các hồ chứa nước tập trung phục vụ sinh hoạt cho đồng bào bốn huyện vùng cao là Đồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc, Yên Minh. Chú trọng đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn, đặc biệt là ở các xã thuộc các huyện vùng cao, các khu tái định cư, các đồn biên phòng và vùng biên giới theo chương trình nước sạch quốc gia đảm bảo đến năm 2020, 100% số dân đô thị được cấp nước sạch và khoảng 87% số dân nông thôn có nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh; đến năm 2030 có trên 95% số dân nông thôn có nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh. Xây dựng một số hồ chứa, đập dâng thượng nguồn với quy mô nhỏ, kết hợp các bể chứa nước mưa, giếng đào, giếng khoan đúng kỹ thuật cần để cấp nước cục bộ cho nhu cầu riêng biệt của khu dân cư và khu du lịch quy mô nhỏ.

(5) Hạ tầng thương mại: Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật như các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ cửa khẩu, kho chứa, bến bãi. Phát triển dần hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quản lý, giám sát, điều hành hệ thống thương mại điện tử, …

(6) Hạ tầng thông tin: Xây dựng lộ trình ngầm hóa hệ thống viễn thông trên địa bàn tỉnh Hà Giang.  Xây dựng và hoàn thiện một số cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh gồm: Cơ sở dữ liệu về các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội; thủ tục hành chính quản lý công chức, viên chức; đất đai, tài nguyên, môi trườngPhát triển mạnh hệ thống kết nối đa dạng với quốc tế. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, khai thác, vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và toàn bộ nền kinh tế. Coi thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong lộ trình CNH, HĐH trong từng ngành, từng lĩnh vực. Xây dựng cơ sở dữ liệu về công dân, đất đai, nhà ở, doanh nghiệp,… làm cơ sở cho việc ứng dụng công nghệ thông tin quản lý các nguồn lực phát triển, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

(7) Hạ tầng giáo dục: Phát triển hạ tầng giáo dục, đào tạo từ mầm non đến PTTH đạt chuẩn. Liên doanh, liên kết mở các phân viện đào tạo và có lộ trình phát triển. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị cho hệ thống trường học các cấp, đáp ứng nhu cầu dạy và học. Củng cố hoàn thiện mạng lưới trường lớp hiện có, đầu tư xây dựng thêm trường mới ở những địa phương còn thiếu. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường cao đẳng y tế, cao đẳng sư phạm, cao đẳng kinh tế – kỹ thuật, trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp và trường dậy nghề của tỉnh. Phấn đấu mỗi huyện có ít nhất 1 trung tâm dậy nghề, thành lập khoa nội trú trong trường dậy nghề để tạo điều kiện cho người dân tộc thiểu số được học nghề.

(8) Hạ tầng y tế: Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ngang tầm các địa phương phát triển. Bên cạnh việc nâng cấp, cải tạo hệ thống Bệnh viện tuyến tỉnh như Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Điều Dưỡng, Bệnh viện Y – Dược cổ truyền tỉnh, Bệnh viện Mắt và nâng cấp các bệnh viện tuyến xã; cân nhắc việc liên kết xây dựng bệnh viện quốc tế, hình thành các trung tâm nghỉ dưỡng, điều trị quốc tế.

(9) Hạ tầng văn hoá, thể thao, du lịch: xây dựng Trung tâm chiếu phim của tỉnh, các trung tâm văn hóa thông tin và các rạp chiếu bóng ở các huyện chủ chốt.  Hình thành các tour du lịch khám phá theo mô hình C.E.T (Creative Experience Tour), xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, văn hóa, du lịch mạo hiểm; xây dựng hệ thống khách sạn phức hợp với các dịch vụ vui chơi giải trí; khu điều dưỡng sức khoẻ; câu lạc bộ leo núi, nhảy dù và du lịch mạo hiểm.

 

Nguồn lực tài chính:

Từ nay đến 2030 dự kiến nguồn lực đầu tư cho Hà Giang khoảng 9 tỷ USD (trong đó nguồn lực từ bên ngoài khoảng 80%).

Các giải pháp tổng thể:

(i1) Cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, tìm các đối tác và nhà đầu tư chiến lược; xây dựng các dự án và đề xuất chính sách cụ thể để thu hút FDI, ODA và các hình thức đầu tư từ PPP, BT, BOT,…;

(i2) Phát hành trái phiếu địa phương, trái phiếu công trình;

(i3) Rà soát, xây dựng danh mục các dự án hạ tầng động lực có khả năng thu hồi vốn, xác định cơ chế đặc thù cho từng dự án để thu hút, huy động đầu tư ngoài ngân sách;

(i4) Ban hành cơ chế đặc thù và quy định cụ thể điều kiện về đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án tạo thêm nhiều nguồn lực đầu tư;

(i5) Khai thác mạnh mẽ các yếu tố như vị trí địa chiến lược (là tài nguyên); đất đai, tài nguyên; truyền thống, văn hóa, lịch sử, cảnh quan; trí tuệ, ý tưởng sáng tạo và truyền thống cách mạng;

(i6) Tích cực, chủ động nghiên cứu, đề xuất các cơ chế chính sách đặc thù, đặc biệt để thu hút đầu tư nước ngoài nhằm thúc đẩy, khơi dậy tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực từ bên trong.

 

Các giải pháp cụ thể:

(i1) Sử dụng vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách hiệu quả

Sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn này chủ yếu tập trung cho các chương trình mục tiêu quốc gia. Để các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách có hiệu quả, trước hết cần tuân thủ các nguyên tắc của Luật Đầu tư công. Đồng thời, để bảo đảm tính khả thi về đàu ra, cần có sự tham vấn khi xây dựng kế hoạch với người dân ở địa phương để các công trình được xây dựng đáp ứng được yêu cầu. Hiện nay một số địa phương có nhiều công trình xây dựng như chợ, nhà sinh hoạt cộng đồng từ nguồn vốn của Chương trình nông thôn mới khi được xây dựng xong nhưng hiệu suất sử dụng thấp. Những công trình xây  dựng như vậy cũng cần có sự tham gia giám sát của cộng đồng, nhằm bảo đảm chất lượng công trình.

 (i2) Vốn ngân sách cho xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông

Ưu tiên nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng theo định hướng phát triển kinh tế của tỉnh, những địa bàn có tiềm năng phát triển kinh tế, có khả năng làm kích hoạt các hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân. Đầu tư kết cấu hạ tầng ( giao thông, điện, nước) trước hết cần tập trung vào các địa bàn được ưu tiên phát triển sau: Phát triển du lịch, kinh tế biên mậu, chương trình phát triển dược liệu … Về thu hút nguồn lực cho phát triển hạ tầng Khu Công nghiệp, Khu Kinh tế,  khu kinh tế – quốc phòng cho các xã biên giới: cần tạo ra một không gian kinh tế có “độ mở’ cần thiết để phát triển. Nhìn chung, các khu thành công đều có các đặc điểm:

– Vị trí hấp dẫn;

– Kết cấu hạ tầng thuận lợi;

– Chính sách ổn định;

– Luật pháp và các chính sách rõ ràng;

– Có nguồn lao động đủ về số lượng, đáp ứng về chất lượng;

– Có sự đảm bảo về xã hội và điều kiện làm việc;

– Chất lượng dịch vụ cao;

– Logistics

– Thông tin công nghệ tốt;

– Hệ thống công nghệ thông tin tốt;

– Có sự hợp lực tốt giữa trong và ngoài khu;

(i3) Sử dụng hiệu quả nguồn vốn trái phiếu chính phủ, tín dụng của Nhà nước: Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng tương đối lớn 6-7%, nếu sử dụng có hiệu quả sẽ có tác động rất tích cực đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tỉnh cần chủ động phối hợp với các Bộ ngành TW, tạo điều kiện cho các đối tượng được tiếp cận, vay vốn, tham gia quản lý sử dụng vốn đúng mục đích và thu hồi vốn vay.

(i4) Đẩy mạnh công tác thu ngân sách và quản lý sử dụng ngân sách

Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách của tỉnh còn hạn chế, cần có biện pháp nuôi dưỡng và phát triển các nguồn thu, nhất là thu từ khu vực ngoài nhà nước, tăng cường khai thác nguồn thu từ quỹ đất để tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Nâng cao hiệu quả việc sử dụng ngân sách phục vụ hoạt động và phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nhất là sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư phát triển, đảm bảo nguyên tắc bố trí vốn trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, tập trung vốn để thực hiện các đề án, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Đối với một số dự án hạ tầng có thể kết hợp khai thác quỹ đất (nhất là dự án giao thông, hạ tầng đô thị, các dự án đầu tư có sử dụng đất), cần kết hợp huy động khai thác quỹ đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất.  Phân cấp về cơ chế tài chính ngân sách để hình thành nguồn vốn cho công tác đầu tư cơ sở hạ tầng.

Tập trung đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng các công trình, dự án phục vụ thu hút đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, như các cụm, điểm CN -TTCN, hạ tầng thương mại, du lịch, hệ thống giao thông, điện nước, công trình công cộng, vệ sinh môi trường. Thực hiện tốt chính sách xây dựng cơ bản, tạo điều kiện thuận lợi khi thuê đất, giải phóng mặt bằng các công trình, đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội.

(i5) Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh

Việc cải thiện môi trường đầu tư đang là một vấn đề cấp bách trong thu hút nguồn lực của Hà Giang. Hiện nay, các chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh (PCI, PAPI, ParIndex …) đều ở mức rất thấp nên cấp thiết cần quan tâm việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Nếu Tỉnh xác định đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, là khâu đột phá quan trọng để phát triển thì để công tác thu hút đầu tư đạt hiệu quả cao, để Hà Giang ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư,  tỉnh cần ban hành nhiều cơ chế, chính sách mới thông thoáng và hiệu quả. Thứ nhất, thành lập cơ quan Xúc tiến đầu tư theo mô hình IPA mà một số địa phương đã thí điểm và thành công trong nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút nguồn lực bên ngoài, đặc biệt FDI trong bối cảnh đầu tư công đang ngày càng hạn chế. Mô hình IPA một cửa vận hành minh bạch và rút gọn và đội ngũ cán bộ chuyên trách hỗ trợ từng nhà đầu tư ngay từ khi hình thành ý tưởng dự án, là bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính, trở thành đầu mối chính thức của tỉnh trợ giúp nhà đầu tư, cam kết hỗ trợ các nhà đầu tư từ khâu ý tưởng, tìm kiếm cơ hội đầu tư, hình thành dự án đến khâu triển khai thực hiện và hoàn thành dự án, thu về lợi nhuận. Thứ hai, Danh mục dự án kêu gọi đầu tư định hướng tập trung vào các lĩnh vực được phân tích khả thi từ quan điểm nhà đầu tư, với chính sách ưu đãi đầu tư cho từng dự án cụ thể. Thứ ba, bố trí quỹ đất sạch để triển khai dự án, Đối với các dự án đầu tư hạ tầng giao thông, tỉnh cần cam kết ứng 100% kinh phí từ ngân sách tỉnh để giải phóng, bàn giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư. Đối với các dự án đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế, tỉnh cam kết hỗ trợ 30% kinh phí giải phóng mặt bằng từ nguồn ngân sách tỉnh. Thứ tư, tỉnh cam kết đầu tư cơ sở hạ tầng (điện, nước, thông tin liên lạc) đến chân công trình cho tất cả các dự án trong Danh mục kêu gọi thu hút đầu tư.

Nếu như tỉnh muốn có những đột phá mạnh hơn, thì cần tập trung vào cải thiện những thành tố còn thấp như tính năng động, đào tạo lao động, hỗ trợ doanh nghiệp, tính minh bạch, chi phí gia nhập thị trường. Nghiên cứu và ban hành Chiến lược thu hút đầu tư giai đoạn tới, trong đó tập trung xác định đối tác chiến lược (khắc phục hiện trạng chưa có nhà đầu tư chiến lược làm trung tâm cho động lực phát triển).  Thành lập Trung tâm hành chính công của tỉnh, đồng thời có cơ chế hiệu quả tiếp nhận ý kiến phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư, giải đáp thắc mắc, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, quan tâm giải quyết kịp thời các vướng mắc cho nhà đầu tư. Phổ biến rộng rãi các quy định về chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư của địa phương; tiếp tục ban hành các chính sách khuyến khích hỗ trợ đối với một số ngành nghề thực hiện các chương trình phát triển kinh tế của tỉnh, các chính sách khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư…Tạo môi trường thông thoáng, đơn giản hóa các thủ tục trong đầu tư để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư.

Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ; đẩy mạnh liên doanh liên kết, hợp tác với các tỉnh trong vùng và cả nước nói chung. Chú trọng cung cấp thông tin, quảng bá những tiềm năng thế mạnh, những cơ hội đầu tư, kinh doanh và định hướng phát triển của tỉnh đối với các địa bàn trong tỉnh cho các nhà đầu tư. Đối với danh mục dự án kêu gọi đầu tư nên làm theo hình thức Project Template, có đánh giá sơ bộ tính khả thi dự án trên quan điểm nhà đầu tư.

(i6) Phát triển thị trường tài chính, tín dụng

Phát triển mạnh thị trường tài chính, tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn vay cho phát triển kinh tế – xã hội. Tạo điều kiện cho tất cả các ngân hàng, quỹ tín dụng trong và ngoài nước mở rộng hoạt động trên địa bàn huyện. Khuyến khích hình thành các doanh nghiệp đầu tư tài chính.

Phát triển các hình thức huy động vốn bằng góp cổ phần, cổ phiếu, thu hút vốn thông qua liên doanh, liên kết trong và ngoài nước. Chú trọng phổ biến thông tin về đầu tư các dự án có hiệu quả cao để thu hút các nguồn vốn của mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh, vùng và cả nước tham gia.

(i7) Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư

Giải quyết nhu cầu vốn lớn cho đầu tư cơ sở hạ tầng thương mại biên giới trong bối cảnh cắt giảm đầu tư công hiện nay từ nguồn ngân sách nhà nước là rất khó. Vì vậy, cần đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa theo Nghị quyết 05/NQ-CP của Chính phủ  đối với các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể dục thể thao, y tế và các hoạt động dịch vụ khác ở những nơi có điều kiện, đảm bảo nguyên tắc tăng tỷ lệ xã hội hóa trong cơ cấu nguồn kinh phí và mô hình quản lý.

Huy động các nguồn vốn trong dân, các doanh nghiệp, để đầu tư cơ sở hạ tầng, thực hiện các chương trình xã hội hóa đường giao thông qui mô nhỏ, kiên cố hóa kênh mương, lát vỉa hè, cây xanh; đầu tư vào sản xuất để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tăng cường lập các dự án đầu tư thực hiện theo hình thức hợp đồng BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao), BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh) và BT (Xây dựng – Chuyển giao) để huy động các nguồn vốn từ các doanh nghiệp. Giải pháp đổi đất lấy hạ tầng là giải pháp có thể áp dụng để khu vực tư nhân có thể làm được việc này.

 Lộ trình thực hiện:

Cần xây dựng lộ trình và bước đi chia theo giai đoạn khởi động, tăng tốc, phát triển và lan tỏa với cách tiếp cận vừa tiệm tiến vừa đột phá. Việc trước mắt cần hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh; trên cơ sở quy hoạch phải ra được các cơ hội đầu tư mới và định hướng thị trường cho các ngành chủ lực của tỉnh. Đồng thời cần nghiên cứu đổi mới mô hình cơ quan xúc tiến đầu tư kết hợp với chiến lược, thu hút đầu tư để ngay sau khi quy hoạch được phê duyệt có thể tận dụng tối đa các cơ hội đầu tư mới từ quy hoạch.