KHI NGƯỜI NÔNG DÂN TRỞ VỀ



Post in February 3, 2016 5:19 am BY

Tiên Lãng Hải Phòng, 15 tháng 1 năm 2016

Trời mưa sụt sùi, một người đàn ông chạy xe máy trở về nhà, không cần thay bộ quần áo lấm bẩn, ông nở nụ cười tươi rói: “Ra trại đến nay đã được hơn 4 tháng, tôi thích làm việc luôn chân luôn tay để cảm thấy mình là người có ích cho xã hội”. Rồi tất bật chạy đi chạy lại vào bếp, chuẩn bị chế biến đồ ăn đãi khách, và say sưa kể lại câu chuyện khai hoang lập đầm sau khi tái hòa nhập vào cuộc sống với dự án nuôi vịt biển và trồng củ sả.

Đó là anh Đoàn Văn Vươn – người nông dân từng vướng vòng lao lý nổi tiếng với vụ án cưỡng chế đất bộc lộ ra vấn đề yếu kém của chính quyền huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang trong quản lý đất đai – giờ được nhiều người dân yêu quý gọi anh là “người nông dân nổi dậy”.

Trên một số mảng tường đổ, vẫn còn sót lại một vài dòng chữ của người dân ở Thanh Hà, Kim Thành (Hải Dương), Móng Cái, Tây Ka Long (Quảng Ninh)… ghi lại lúc về thăm, chia sẻ với gia đình anh Vươn, anh Quý.

Thay bằng bỏ ruộng, chán ruộng hãy làm nó hồi sinh

Từ ngày biết tin được đặc xá, ngay trong nhà giam anh Vươn đã lên kế hoạch hồi sinh khu đầm “chết” đã vắng bóng chủ nhân nhiều năm qua, phủ đầy cỏ dại, biển đẩy phù sa bồi lấp khiến lòng đầm bị đùn cao, lấp hết. Những câu hỏi “trồng cây gì, nuôi con gì” để hồi sinh mảnh đất thuộc về mình, có tiền nuôi vợ nuôi con dồn dập thôi thúc làm anh trăn trở. Ngay khi trở về, anh bắt tay ngay vào công việc cải tạo lại khu đầm với quy mô rộng 40,3 ha. Nhiều chuyên gia thuỷ lợi từng đánh giá khu đầm của anh Vươn giữ vị trí trọng yếu trong cả tuyến bờ biển.

Hiện nay anh Vươn đang đầu tư nuôi khoảng 1000 con vịt biển theo quy trình nuôi hoang dã hóa vịt nhà, lấy vịt giống giá gốc 27.000 đồng một con từ Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên (Viện Chăn nuôi) nghiên cứu và chọn tạo thành công. Và để nuôi vịt béo khỏe, một trong những bí quyết làm cám nuôi vịt của anh Vươn là ngâm thóc trong vòng 24 đến 48h.

Giống vịt biển này vô cùng thú vị. Do có khả năng thích nghi rộng trên mọi loại nước, sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt cao nên vịt biển được nhiều hộ nuôi thủy cầm lựa chọn. Đây là giống sinh trưởng nhanh, có thể thả ở các cửa sông, ngoài đảo vì chúng uống được nước biển, giống vịt biển này được triển khai nuôi thí điểm 1.000 con ở Quảng Ninh, 200 con ở đảo Thổ Chu (Phú Quốc, Kiên Giang). Loại vịt này thích nghi đa dạng ở cả nước ngọt, nước lợ và mặn, sản lượng cao, trọng lượng lớn, cho trứng to. Sau khi nuôi khoảng 6 tháng thì đàn vịt bắt đầu cho trứng. Giống vịt biển mở ra cơ hội mới cho chăn nuôi thủy cầm, bởi nuôi vịt trên biển giúp hạn chế được nhiều dịch bệnh so với nuôi trên nước lợ, nước ngọt truyền thống. Theo Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên, vịt biển đẻ từ 20 – 21 tuần, khối lượng vào đẻ 2,5 – 2,7 kg/con, năng suất trứng 235 – 247 quả/mái/năm. Khối lượng trứng, 82 – 86 gr/quả, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3,1 – 3,3 kg.

12642496_1132210476803708_7894518452124053702_n

hai anh em anh Vươn, Anh Quý đọc báo Ngày Nay – báo miễn phí dành cho người nghèo

Không chỉ dừng lại ở ý định phát triển đàn vịt biển, anh Vươn hào hứng chia sẻ: “Tôi có ý tưởng xây dựng thương hiệu nông sản sạch phân phối ra cả vùng” và bắt đầu với với ý định trồng cây sả trên mảnh đất nhà mình, trưng cất tinh dầu từ cây sả và thương mại hóa. Và sau đó khuyến khích bà con chuyển đổi cây trồng sang trồng sả thay bằng trồng chuối như hiện nay. Theo anh, vùng đất bãi Tiên Lãng trồng sả rất phù hợp vì ăn theo thổ nhưỡng. Cây sả rất dễ trồng, không kén đất, thích nghi rộng với mọi vùng khí hậu, không cần công chăm sóc, chi phí cũng không nhiều. Trồng sả không lo sâu bệnh, chỉ cần biết cách phòng trừ rệp sáp là đảm bảo an toàn cho cây sả. Nếu không trị sớm rệp sáp hút nhựa, làm cây còi cọc không lớn nổi, năng suất sẽ bị giảm và lây lan nhanh sang các ruộng sả khác. Chi phí đầu tư thấp, lợi nhuận cao 3 – 4 lần so với cây lúa.

Rất ngạc nhiên khi người nông dân như anh Vươn nói về chữ “thương mại hóa” bởi vì khái niệm này khá xa lạ với bà con, khi hỏi tiếp, anh Vươn dự định thương mại hóa kiểu gì, thì anh trả lời rất chắc chắn, có một công ty dược liệu bao tiêu sản phẩm đầu ra và đó là động lực để tôi quyết định theo đuổi việc trồng cây sả.

Trước năm 1986, nông dân bỏ ruộng và bây giờ có xu hướng nông dân lại chán ruộng nhưng những người như anh Vươn thì chọn giải pháp bám ruộng. Đất với người nông dân, người sinh ra từ đất và cuối cùng cũng về với đất. Đất và người gắn bó, thân thuộc như rễ cây bám vào đất sinh sôi rồi lại làm cho đất màu mỡ. Người nông dân rất sợ bị rơi vào cảnh bần cùng “một tấc đất cắm dùi không có”.

Được mất của cuộc đời đến từ … cơn bão

Xuất thân từ gia đình nông dân ở xã Bắc Hưng, ông Vươn đến sinh nhai tại Cống Rộc (xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng). Cơn bão năm 1987 kinh hoàng, lượng phù sa tăng gấp nhiều lần, nhiều dân làng đói quá bỏ làng ra đi. Tại đây, cơn bão vào mùa gió thổi mạnh đã cuốn mất dãy phi lao chắn sóng chỉ trong một đêm, nguy cơ đê biển sạt lở và bị vỡ bất kỳ lúc nào. Nhìn cánh đồng xã Vinh Quang vốn phì nhiêu trở nên hoang hoá vì không thể thau chua rửa mặn, người dân trồng lúa không được thu hoạch, ông trăn trở. Thời gian này, khi đang theo học lớp đại học tại chức ngành Nông nghiệp tại Hải Phòng, quá trình tìm hiểu, ông càng thắc mắc: “Cánh đồng nằm gần cửa sông, lưu lượng phù sa rất lớn nhưng đất lại cằn cỗi, không trồng được cây gì. Tại sao phù sa không bồi lên được mà còn hiện tượng biển lấn”. Sau thời gian dài tìm hiểu, ông Vươn đã tìm ra nguyên nhân đê Cống Rộc liên tục bị biển lấn. Vốn là trước đây người Pháp đào hệ thống sông đã làm thay đổi dòng chảy ra phía sông Văn Úc, gây nên hiện tượng sạt lở. Trong nhiều năm, chính quyền đắp đê bao quanh, nhưng cơn bão năm 1987 đã cuốn trôi khiến khu đầm nhiễm mặn.

Làm sao để lái được dòng chảy tận dụng phù sa, cải tạo cánh đồng trở lại phì nhiêu? Câu hỏi đó khiến anh trăn trở nhiều đêm liền. Đến năm 1993, huyện Tiên Lãng có chính sách khuyến khích giao đất cho người dân đắp đầm. Anh làm đơn xin nhận vị trí Cống Rộc khai hoang mở rộng diện tích đất. “Nhiều người “gàn” nói vị trí đó bao đời biển lấn không thể cải tạo được. Nhưng tôi khẳng định bãi này cải tạo được. Được giao 21ha, tôi bắt tay vào việc”, anh Vươn nhớ lại. Bắt đầu bằng việc đắp chân đê thật vững rồi huy động tàu chở đá xếp quanh đê. Đắp đến đâu, kè đến đó nên chỉ trong một tháng đã hoàn thiện, có ngày huy động tới 750 nhân công, đó là thời điểm năm 1994.

Anh Vươn có 3 người con, người con gái cả đã mất khi 8 tuổi, con trai anh hiện 21 tuổi. Nghĩ về cô con gái mà anh xót xa, nước mắt lăn trên gò má. Đó là vào năm 2001 khi anh đắp lại đập ở một điểm khuyết sâu 11m, để đắp được điểm này, anh áp dụng nguyên tắc thuỷ phá thổ, làm cống điều tiết nước, dùng cành cây con và bùn tạo lớp liên kết khi rút ra những kinh nghiệm về thuỷ lợi. Vào đúng ngày vui nhất là ngày đặt cống thoát nước là ngày nhận tin con gái anh chết đuối vì rơi xuống cống. Bao nhiêu thời gian, công sức đổ vào biển, còn thời gian đâu mà chăm con nên anh ân hận xót xa: “Cô bé mất lúc cháu 8 tuổi, tròn 8 năm tôi theo đuổi việc lấn biển cho đến lúc kết thúc công trình, và trước đó khoảng 8 ngày cháu đã có các biểu hiện khác thường như điềm báo trước. Cháu tự nhiên rất ngoan, mang cá về cho ông bà, xin tiền đóng góp từ thiện, thăm hỏi họ hàng, giải được toán nâng cao, tự đi được xe đạp mà trước đó cháu không biết đi …”

Cởi áo tù làm lại cuộc đời

Dường như mỗi con người một số phận, những người phải chịu vòng lao lý thì số phận bao giờ cũng mang nhiều bi kịch hơn. Có người phạm tội sát nhân, tham ô hối lộ được ra tù; nhưng trong đầu vẫn chứa chất nỗi mặc cảm tự ti, len lén, nem nép hãi sợ, xa lánh cộng đồng, thậm chí đến người thân yêu ruột thịt cũng không dám gặp. Lại có kẻ phạm tội giết người, khi được quay lưng khỏi cánh cổng nhà tù hít thở bầu trời tự do, là đi biệt xứ luôn, giấu tông tích mà làm ăn sinh sống, chứ không dám về làng quê để chịu cảnh hắt hủi kì thị, cô lập, xa lánh. Ông Đoàn Văn Vươn và người em Đoàn Văn Quý ra tù lại có sự khác biệt, hai ông ra khỏi cánh cổng nhà tù là được ùa vào vòng tay nhớ nhung và những giọt nước mắt rưng rưng mừng vui của người thân và tình làng nghĩa xóm.

Nhớ lại 18 tháng biệt giam, anh Vươn ở với 3 tù nhân khác nhau, anh kể về chuỗi ngày đó đã khuyên giải họ hoàn lương như thế nào. Khi đối diện với bốn bức vách lạnh lẽo của phòng giam, anh tập trung năng lượng để hồi ức lại các kiến thức hiểu biết về luật pháp, để có thể viết những lá đơn dài đến 21 trang khi quản giáo ngồi trước mặt.

Điều thú vị khi hỏi anh Vươn là tại sao anh không học về luật mà lại hiểu được quy trình xử án hay biết cách lập luận các tình tiết xử án, thì anh ấy tiết lộ, chính bộ phim Chuyện tình Havard được phát sóng trên truyền hình thời kỳ đó đã giúp anh khai sáng tư duy, tận dụng những gì sáng tạo, áp dụng vào câu chuyện xử án của chính mình.

Tại phiên toà xử công khai, với những lập luận sắc bén của mình đã khiến nguyên trưởng Công an huyện Tiên Lãng Lê Văn Mải phải im lặng tại hội trường. Pháp luật nghiêm minh cộng với tình yêu thương sẽ làm cho con người đứng dậy, làm lại cuộc đời. Nhưng, lòng nhân ái còn có sức mạnh hơn cùm kẹp, và song sắt nhà tù.

Dân biển thật người, có sao nói vậy. “Nhiều người hỏi tôi, sao nhìn anh này hiền lành mà lại dám chống lại chính quyền. Và câu chuyện buồn đã tạo biến cố lớn trong cuộc đời mình, tôi ngẫm ra rằng, chính quyền không thể đẩy người dân vào bước đường cùng, mất dân là mất hết. Hiện tại, tôi chỉ sống vì chính tôi, vì gia đình và vì cộng đồng”. Một con người trải qua nhiều mất mát và biến cố, khi gượng dậy vẫn nghĩ về cộng đồng ư? Khi được hỏi, anh có muốn chia sẻ gì cho bà con không. Anh Vươn nói “Từ kinh nghiệm cuộc đời mình, tôi chỉ muốn nói với bà con, hãy làm những gì có ích và đảm bảo môi trường bền vững, cái gì có hại cho môi trường là không làm”.

Bên trong khu đầm phủ màu xanh, với rừng bần ngập trong nước mặn, và cả vườn chuối mật xác xơ, mùi bùn ẩm thấp, đàn vịt bơi lội, lặn hụp, rúc mỏ vào đám cỏ cạnh bờ để kiếm mồi vừa đi vừa kêu “quang quác” hiện ra một thế giới dường như bị lãng quên.