Tạo việc làm cho phụ nữ nông thôn



Post in March 7, 2016 10:28 am BY

7_xhvp

Đa số những người phụ nữ ly nông và ly hương tìm về các đô thị mưu sinh, vẫn muốn tìm thấy cơ hội ngay ở chính quê nhà. Giải bài toán an sinh cho họ đòi hỏi những nỗ lực tổng thể, từ chú trọng đến bình đẳng giới, nâng cao nhận thức cho cộng đồng và tăng cường giám sát thực thi chính sách lao động… Chỉ như vậy, những xóm làng mới không thiếu vắng hơi ấm của người phụ nữ.

 Nghịch lý từ những con số

Theo khảo sát từ Cơ quan Phụ nữ Liên Hợp Quốc (UN Women) và Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), hiện nay, hơn 70% lao động nữ nông thôn ở Việt Nam không có khả năng tiếp cận đào tạo nghề do hạn chế về trình độ văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp…  Phỏng vấn 10 người phụ nữ hiện đang sống tại Thị trấn Hồ (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) được biết, do cách suy nghĩ của bố mẹ, con gái không cần học nhiều, nên họ càng khó tìm việc làm. Không chỉ có vậy, nếp suy nghĩ bảo thủ ấy là nguyên nhân khiến cho tỷ lệ phụ nữ nông thôn tiếp cận với chương trình đào tạo nghề thấp hơn so với nam giới cũng như có rất ít phụ nữ đang giữ các vị trí ra quyết định trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Những yếu tố về cơ cấu ngành nghề cũng góp phần làm gia tăng khoảng cách về lương theo giới ở Việt Nam, bởi phụ nữ chiếm số đông trong các ngành sản xuất mặt hàng xuất khẩu bị ảnh hưởng trực tiếp khi kinh tế gặp khủng hoảng.

Thêm vào đó, tốc độ đô thị hoá nhanh và sức ép của việc thu hẹp đất đai canh tác, không có nghề phụ đã khiến cho mức di cư từ nông thôn ra thành thị ngày càng tăng lên, dù chỉ là di cư tạm thời. Ước tính cả Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có hơn triệu lao động nữ tràn về để tìm việc làm. Theo thống kê, lao động nữ di cư ở Việt Nam có độ tuổi khá trẻ với hơn 60% phụ nữ có độ tuổi từ 15 đến 29; và 1/3 phụ nữ di cư lần đầu tiên khi còn ở độ tuổi 15-19. Mặc dù vậy, hơn một nửa phụ nữ lao động di cư đã có gia đình, chủ yếu là tại nơi xuất cư. Chính vì vậy, có đến 62% phụ nữ lao động di cư đã có con cái và khoảng 40% đang sống cùng với con cái của họ tại điểm đến. Điểm chú ý là phụ nữ lao động di cư hầu như chưa được qua đào tạo nghề hay chuyên môn nghiệp vụ gì: chỉ có dưới 10% được đào tạo ở bậc trung cấp, số còn lại mới chỉ tốt nghiệp phổ thông.

Theo nghiên cứu của Viện Bảo hộ lao động, nữ lao động phổ thông ở các vùng nông thôn ra thành phố làm việc theo quan hệ thỏa thuận, không theo qui định giờ giấc, không có chế độ bảo hiểm y tế, nhiều trường hợp bị chủ nhà ngược đãi hoặc lạm dụng. Làn sóng di cư này còn gây nên sự mất cân bằng về lực lượng lao động nông thôn, về tỉ lệ người lao động tại các địa phương và tiềm ẩn nguy cơ lây lan các dịch bệnh cũng như tệ nạn xã hội. Do đó, việc làm cho lao động nữ nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng là việc làm cấp thiết, không chỉ để bảo đảm các mục tiêu kinh tế xã hội trước mắt mà còn bảo đảm các điều kiện để phát triển bền vững.

  Tháo gỡ vấn đề “nóng” từ đâu?

Tính đến nay, Chính phủ đã ban hành cơ bản hoàn thành nền tảng pháp lý cho vấn đề giải quyết việc làm cho phụ nữ nông thôn. Đây cũng là nội dung được Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chọn làm khâu đột phá trong chương trình hành động. Tuy nhiên, giải quyết việc làm cho lao động nữ còn được thúc đẩy thông qua thực thi quyền bình đẳng giới. Cần đến chính sách ưu tiên lao động tại chỗ cho phụ nữ tại các vùng chịu áp lực lớn như bị thu hồi đất, vùng không có đất sản xuất, dân số đông… Xét về dài hạn, cần lồng ghép chính sách này vào chiến lược và quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn của địa phương.

Nhìn chung, các chính sách cho lao động nữ của Việt Nam tương đối đầy đủ và tốt nhưng còn thiếu lực lượng giám sát thực thi chính sách. Những quy định đối với lao động nữ có trong bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm, Luật Bình đẳng giới… nhưng vẫn còn nhiều điểm bất cập và chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Chưa kể, một số điều khoản của bộ luật Lao động còn chung chung, không cụ thể dẫn đến việc người sử dụng lao động nữ lợi dụng lách luật, gây hậu quả xấu đối với lao động nữ. Thực tế, việc thực thi Bộ luật Lao động ở nhiều doanh nghiệp rất tùy tiện, đặc biệt là trong bố trí việc làm, giờ giải lao và làm thêm giờ… Thậm chí, nhiều doanh nghiệp không tuyển dụng lao động nữ, hoặc khi tiếp nhận đã ép lao động nữ cam kết không sinh con trong 2-3 năm đầu. Điều này vô hình trung đã tước đi quyền có việc làm của lao động nữ.

         Do đó, để nâng cao năng lực thực thi chính sách việc làm đối với lao động nữ, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp cụ thể, như: Sớm hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung những quy định đối với lao động nữ không còn phù hợp trong Bộ Luật Lao động, Luật Bình đẳng giới, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo hiểm xã hội… đồng thời rà soát danh sách các nghề cần đào tạo, nghề dự phòng, rà soát danh mục công việc và nghề độc hại, nguy hiểm, cấm sử dụng lao động nữ để loại bỏ một số công việc không còn phù hợp và bổ sung một số công việc mới nhằm bảo vệ và tăng cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập cho lao động nữ. Bên cạnh đó, các địa phương cần tăng cường thực hiện các Đề án hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2015-2020, phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt, gắn với tạo việc làm cho lao động nữ; Thúc đẩy tiếp cận bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo có chất lượng, tạo việc làm cho lao động nữ. Tăng cường công tác tuyên truyền chính sách pháp luật cho các chủ doanh nghiệp để họ nghiêm túc thực hiện các quy định. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định đối với lao động nữ. Cũng như mở rộng hợp tác quốc tế để chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm đồng thời mở ra nhiều cơ hội học tập, việc làm hơn nữa cho phụ nữ.

Rất nhiều công việc phải cùng lúc triển khai đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị. Bài toán không chỉ được giải với quyết tâm cao mà còn cần đến cái tâm của người xây dựng và thực thi chính sách. Bởi nếu hôm nay không giải quyết thỏa đáng vấn đề này, thì ngày mai xã hội sẽ còn đối diện với nhiều hệ lụy cần phải giải quyết với mức độ nghiêm trọng hơn, từ chính sự mất cân bằng của những làng quê thiếu vắng đi người phụ nữ.

 

Box 1:

Theo thống kê, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực nông thôn nước ta hiện nay là 31,7 triệu người, chiếm 66,9%, trong đó phụ nữ chiếm 50.3%, nghĩa là khoảng 16 triệu lao động nữ.

 

Box 2: 

Chính phủ đã ban hành Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2015, đào tạo nghề gắn với tư vấn nghề, góp phần tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập bền vững, xóa đói giảm nghèo cho hội viên phụ nữ ở cơ sở; Quyết định 295/QĐ-TTg “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm” giai đoạn 2010 – 2015;  Quyết định 1956/QĐ-TTG “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”… tạo nền tảng pháp lý để giải quyết việc làm đặc biệt cho lao động nữ nông thôn.